TAM HÓA LIÊN CHÂU TRONG TỬ VI

Những hành tinh dịch chuyển trên địa bàn toán số có 4 sao khoác huy hiệu là Hóa (tạo thành) như tên đã đặt: Khoa (đức năng) Quyền (uy vũ), Lộc (phú cường) và Kỵ (hờn ghen).

Ba Hóa ở trên cần được trợ lực cho nhau mới chuyển đến hoàn hảo. Có Khoa mới dẫn đến Quyền rồi tạo ra Lộc. Nối đuôi ba sao này dễ khiến sanh ra Kỵ.

Quy phạm cho biết bộ tứ Hóa do hàng Can điều động bằng đường lối phụ thuộc cho 1 hành tinh quan trọng chi phối mỗi Hóa. Riêng 3 bộ Khoa Quyền Lộc được nêu danh như 3 viên ngọc quí một khi song hành nối tiếp nhau.

  • Vậy tam hóa liên châu nhập Mệnh khác nhau với tam hóa cùng Mệnh thế nào ?
  • Cùng Mệnh và Khoa Quyền Lộc đứng lối chân vạc trong tam hợp gồm Mệnh Quan và Tài tức là mệnh này tự tạo lấy Tam Hóa cho bản mạng. Còn liên châu nhập Mệnh gồm Phụ có 1 Hóa, Bào có 1 Hóa, ráp vào với Hóa của Mệnh tức là Mệnh đắc hạnh phúc nguyên nhân nhờ gia đình sẵn nếp vinh quang, tất nhiên hưởng rực rỡ hơn tam Hóa cùng Mệnh.

Vì sao chỉ có tuổi Canh mới có tam Hóa liên châu?

Nhìn vào 10 tuổi hàng Can đứng trên 12 cung toán số, cho thấy chỉ có 4 tuổi Giáp Ất Canh Tân được hợp trúng mức âm dương mà Canh Tân đương nhiên mạnh hơn Giáp Ất (Kim khắc Mộc). Sở dĩ Ất nối bước theo chân Canh nhờ ở lý dương động âm tính tác hợp sinh thành đã sắp xếp thứ tự theo chỉ số:

Giáp là 1 hợp với Kỷ 6;

Ất là 1 hợp với Canh 7; Cơ: lẻ là sinh

Bính là 1 hợp với Tân 8; Ngẫu: chẵn là thành.

Đinh là 1 hợp với Nhâm 9;

Mậu là 1 hợp với Quý 10;

Năm cặp tác hợp cho thấy luôn luôn Dương khắc chế Âm mà Ất cũng được số tam Hóa liên châu cho dầu cách hợp cùng Canh trúng mức âm dương sinh thành từ tư thế ở ngôi vị đến hoàn hảo cặp đôi

Giáp hợp Kỷ đứng nghịch âm dương

Ất hợp Canh: cặp đôi trúng vị

Bính hợp Tân: Bính đứng nghịch

Đinh hợp Nhâm: cả 2 đều trái nghịch

Mậu hợp Quý

Trường hợp nào tuổi Canh cũng có tam hóa liên châu … (Quyền giáp Khoa Lộc) còn tuổi Ất chỉ khi nào đắc Tử Tướng ở Thìn Tuất mới xuất hiện Khoa giáp Quyền Lộc. Đặc sắc nhất là Tỵ Dậu Sửu ở Thìn là vị trí Thiếu Âm, Khoa Quyền Lộc này được Quan Phúc và Thiên Ất quí nhân ủng hộ ai kia với tư thế nhân dân đảm nhận trách nhiệm kẻ cả. Đối với tuổi Hợi Mão Mùi thân thế Mệnh nhân ở trường hợp Thiếu Dương, Thiên Không nên thức tỉnh ghi nhớ Tứ Đức thực thi xây dựng đến mức độ nào. Cây thước Tài Thọ là kim thăng bằng cán cân sẽ báo hiệu cho biết kho tiết kiệm (Lộc Tồn) từ ngàn xưa tích lũy lại còn đầy hay vơi hay đã cạn hết để 3 quí nhân tùy cơ ứng dụng.

Bộ tam Hóa liên châu, một kho ngọc quí, nhận xét cho kỹ nhập Mệnh có vẻ kém phần thích đáng như ở cung Tử cả 2 tuổi Canh cũng như Ất.

Tuổi Canh thuộc Dương, một khi Mệnh chiếm cung Dương cung Tử phải là âm, nếu đắc Tam Hóa liên châu thì Lộc & Khoa phải là cung Dương có Thái Dương an vị nên hưng vượng được chính thức lâu bền, hơn hẳn Mệnh đắc Quyền ở dương cung giáp Khoa Lộc nằm ở 2 cung âm. Thái Dương nơi đó chỉ sáng ngời trong giai đoạn mà thôi.

Tuổi Ất xuất hiện ở Mùi (âm), Tử Tướng hiên ngang ở cung Thìn là cung Tử đắc Hóa liên châu cho thấy nếp gia đình đã hun đúc nên con người đầy đủ đức năng.

Kiểm điểm lại khả năng của Tứ Hóa đứng trong thập Can tuổi Canh có Hóa Kỵ mầm gây hấn, nằm chung cùng Lộc Khoa. Thương nhân nên khiêm tốn xử thế sẽ được vinh vì Khoa sẽ giải được Kỵ. Tuổi Ất Hóa Kỵ đứng chung Quyền Lộc, Mệnh đứng nghịch lý âm dương. Tử Tướng đắc Khoa, tưởng cũng nên nhu thuận, hướng dẫn cuộc đời đến …

Lại có thuyết trình bày tứ Hóa tuổi Canh tuần tự theo 4 sao Nhật (Lộc) Vũ(Quyền) Âm(Khoa) Đồng (Kỵ) tức là Quyền giáp Lộc và Kỵ.

Xin thưa, đã nêu danh là tam Hóa liên châu, không lẽ chỉ có 2 viên ngọc quí trộn lẫn 1 viên mắt cá dính bùn nhơ. Mười tuổi hàng Can, những sao được trao cho sử dụng 4 Hóa thì Thái Âm đứng đầu đựoc 5 lần:

Tuổi Ất Thái Âm có Kỵ

Tuổi Đinh Thái âm có Lộc

Tuổi Mậu Thái Âm có Quyền

Tuổi Canh Thái Âm có Kỵ

Tuổi Quí Thái Âm có Khoa

Thái Âm đã đóng đủ vai Khoa Quyền Lộc và Kỵ. Hóa Kỵ được trao cho cả cặp Ất Canh vì bộ đôi này đều đắc vị âm dương, bộ Tứ Hóa diễn chuyển cùng ý nghĩa (bộ Tử Phủ ở giữa làm nòng cốt) khỉ khác Canh là dương tất cương (Quyền), Ất là âm phải nhu (Khoa). Hóa Kỵ đứng ngoài để phản ứng khuyên răn hai tuổi này đã được hoàn hảo đắc vị âm dương, lại đứng bộ đôi cùng chung cộng tác (2) cố gắng nên tự hiểu mà hướng dẫn cuộc đời:

Ất: Cơ Lương Vi Nguyệt: sống đều hơn tội lỗi.

Canh: Nhật Vũ Đồng Âm: khiêm tốn đắc vinh

Toán số học không phải chỉ là môn học để tìm biết thời cơ thuận nghịch, còn là một khoa giáo huấn nhắc nhở nhân toàn kín đáo để người đời thấu nhận đâu là giá trị của đệ tam “Tài” vũ trụ.

(Tử vi nghiệm lý toàn thư – tác giả Thiên Lương)